Đăng nhập

hoặc
Đăng ký

hoặc

Video hoạt động

Video khác

Tin Bộ KH&CN

Triển khai Nghị quyết số 01 và 02 năm 2019 của Chính phủ: Ngành khoa học và công nghệ phải bứt phá mạnh mẽ

Chủ trì cuộc họp đầu năm 2019 của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh đã thể hiện tinh thần quyết tâm với những giải pháp và nhiệm vụ trọng tâm đặt ra trong năm 2019 theo Chương trình hành động tại Nghị quyết số 01 và 02 của Chính phủ, với kỳ vọng ngành KH&CN tiếp tục có những đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển các ngành, lĩnh vực nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước nói chung.
 
Ngày 14/02/2019, Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh đã chủ trì cuộc họp với lãnh đạo các đơn vị chức năng của Bộ về triển khai thực hiện Chương trình hành động của Bộ KH&CN thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ và Chương trình công tác năm 2019 của Bộ KH&CN với phương châm hành động của Chính phủ “Kỷ cương, liêm chính, hành động, bứt phá, sáng tạo, phát triển”.
 
 
Toàn cảnh cuộc họp
 
Tại buổi làm việc, Bộ trưởng Chu Ngọc Anh khái quát ngắn ngọn về những kết quả cũng như những khó khăn, thách thức của ngành KH&CN trong năm 2018 vừa qua. Đặc biệt, được sự quan tâm chỉ đạo của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành, địa phương về hoạt động KH,CN và  đổi mới sáng tạo (ĐMST) đã tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển KH&CN phục vụ trực tiếp phát triển kinh tế - xã hội. Qua đó đã ổn định kinh tế vĩ mô, tái cơ cấu nền kinh tế, hoàn thành toàn bộ 12 chỉ tiêu kế hoạch, trong đó có 9 chỉ tiêu vượt kế hoạch; tăng trưởng GDP đạt 7,08% vượt chỉ tiêu 6,7%, cao nhất kể từ năm 2008.
Nhiều thành tựu KH&CN được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực y tế, nông nghiệp, xây dựng, thông tin, ngân hàng, du lịch. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng của nền kinh tế ngày một lớn, năm 2018 đạt 43,5% (bình quân 3 năm 2016-2018 đạt 42,18%, cao hơn nhiều giai đoạn 2011-2015 là 33,58%) vượt mục tiêu 5 năm 2016-2020 Quốc hội giao (khoảng 30%-35%). Năm 2018, xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam tiếp tục tăng 2 bậc lên vị trí 45/126 quốc gia và nền kinh tế, dẫn đầu nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp (năm 2017 tăng 12 bậc, từ vị trí 59 lên vị trí 47). Góp phần vào thành quả chung đó, ngành KH&CN trong năm 2018 đã có những bước chuyển mình đáng ghi nhận, khẳng định vị trí, vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực KH&CN, cùng đất nước tiếp tục phát triển, hội nhập sâu rộng với thế giới.
Bộ trưởng khẳng định, với sự chuyển dịch chính sách – lấy doanh nghiệp làm trung tâm, trong mấy năm gần đây, Bộ đã tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp nghiên cứu, ứng dụng, đổi mới và chuyển giao công nghệ; tập trung phát triển các sản phẩm theo chuỗi giá trị sản xuất; hỗ trợ doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo;… đặc biệt là việc tận dụng các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại.
Tuy nhiên, Bộ trưởng nhận định, mặc dù có nhiều cơ hội nhưng cũng không ít khó khăn, Bộ trưởng mong muốn tập thể cán bộ Bộ KH&CN, nhất là những người đứng đầu các đơn vị cần phát huy sức mạnh và trí tuệ, bứt phá mạnh mẽ, quyết liệt thực hiện các nhiệm vụ được Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, tiếp tục khẳng định và nâng cao vị thế của Bộ trong công tác tham mưu chính sách về phát triển KH,CN và ĐMST để ngành KH&CN tiếp tục có những đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển các ngành, lĩnh vực nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước nói chung.
Theo Bộ trưởng, tiếp nối thành công của năm 2018, Bộ KH&CN sẽ phấn đấu thực hiện các mục tiêu đặt ra cao hơn trong năm 2019. Nhưng để thực hiện hóa điều này rất cần sự đoàn kết, sáng tạo, quyết tâm vượt qua chính mình, thay đổi chính mình; cũng như công tác chỉ đạo, điều hành quyết liệt ở những người đứng đầu đơn vị. Tinh thần chung là phải quyết liệt hơn, sáng tạo hơn, đạt được kết quả tổng thể cao hơn năm 2018.
 
 
Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh chủ trì cuộc họp
 
Các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm, cụ thể triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ
Tại hội nghị, Lãnh đạo các đơn vị đã được quán triệt các nhiệm vụ cần phải tập trung triển khai theo Chương trình hành động của Bộ KH&CN thực hiện Nghị quyết 01 và 02 của Chính phủ, cụ thể: Khơi thông các nguồn lực, tăng cường huy động nguồn lực xã hội đầu tư cho KH&CN và đổi mới sáng tạo, nhất là từ doanh nghiệp; Triển khai các giải pháp để tiếp thu và làm chủ các công nghệ cốt lõi của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Phát triển mạnh mẽ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia liên kết chặt chẽ với cộng đồng khởi nghiệp trong khu vực và quốc tế, biến khởi nghiệp sáng tạo thành một trong những động lực đột phá cho đổi mới mô hình tăng trưởng; Rà soát, tái cơ cấu các chương trình KH&CN quốc gia theo hướng coi doanh nghiệp là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia; Quyết liệt đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu trên cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại, công nghệ cao. Thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu; Đẩy mạnh hoạt động tiêu chuẩn đo lường chất lượng, sở hữu trí tuệ; Bảo hộ sở hữu trí tuệ, phát triển khai thác tài sản trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế; Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021; Đẩy mạnh hoạt động truyền thông KH&CN.
 
Các nhiệm vụ theo chức năng của Bộ KH&CN, cụ thể: Thực hiện các kế hoạch Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ năm 2019; Triển khai kế hoạch năm 2019 và hướng dẫn xây dựng kế hoạch năm 2020; Kế hoạch xây dựng các văn bản năm 2019 của Bộ KH&CN; Thực hiện công tác đánh giá, phân loại tổ chức, cá nhân; Tổ chức thực hiện Quy chế, Điều lệ tổ chức và hoạt động của các đơn vị trược thuộc Bộ đã được ban hành; Tiếp tục triển khai Nghị quyết 18, và 19 của Trung ương Đảng khóa XII, Nghị quyết số 08,10 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ vể đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Xây dựng xây dựng Chính phủ điện tử phục vụ người dân và doanh nghiệp; Triển khai kế hoạch năm 2019 của Lãnh đạo Bộ và triển khai các hoạt động thiết thực Chào mừng 60 năm Ngày thành lập Bộ KH&CN.
Bộ trưởng chỉ đạo, ngay sau kỳ nghỉ Tết, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ cần quán triệt tới toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật hành chính, kỷ luật lao động; khẩn trương tập trung giải quyết, xử lý công việc ngay những ngày làm việc sau Tết bảo đảm chất lượng và tiến độ, đặc biệt là những công việc còn tồn đọng hoặc chậm tiến độ do nghỉ Tết, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và nhân dân.
 
Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển truyền thông KH&CN
 

Thủ tướng Chính phủ: Cần tập trung chuyển đổi mạnh mẽ nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng dựa vào khoa học và công nghệ

Ngày 11/02/2019, ngày làm việc đầu tiên sau kỳ nghỉ Tết nguyên đán Kỷ Hợi, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đã tới thăm, làm việc, dự lễ xuất những chuyến hàng rau quả đầu tiên sang Nhật Bản năm Kỷ Hợi 2019 của Công ty cổ phần Thực phẩm xuất khẩu (TPXK) Đồng Giao.
 
Cùng đi có các đồng chí Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng: đồng chí Mai Tiến Dũng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; đồng chí Chu Ngọc Anh, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; đồng chí Nguyễn Xuân Cường, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; đồng chí Trần Hồng Hà, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; lãnh đạo Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương…, Lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh Ninh Bình.
 
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã đến thăm nhà máy chế biến nông sản của Công ty cổ phần TPXK Đồng Giao, thăm ruộng sản xuất của nông trường Đồng Giao, cắt băng xuất những chuyến hàng nông sản đầu tiên đi nước ngoài trong năm mới Kỷ Hợi 2019.
 
 
Thủ tướng dự lễ cắt băng xuất những chuyến hàng nông sản đầu tiên đi nước ngoài trong năm mới Kỷ Hợi 2019
(Ảnh: Quang Hiếu)
 
Tại nhà máy chế biển nông sản Đồng Giao và ruộng sản xuất của nông trường Đồng Giao (thành phố Tam Điệp), Thủ tướng đã thăm hỏi, động viên, khích lệ tinh thần sản xuất của cán bộ, công nhân viên công ty trong ngày làm việc đầu tiên của năm mới âm lịch 2019.
 
Công ty cổ phần TPXK Đồng Giao được thành lập năm 1955, tiền thân là Nông trường quân đội, do các Chiến sỹ Điện Biên và Cán bộ miền Nam tập kết về xây dựng. 15 năm trước đơn vị đã thực hiện cổ phần hóa. Cùng với sự biến động, phát triển của đất nước, kết quả sản xuất, kinh doanh của Công ty cũng đạt được nhiều thành tựu.
Công ty không những đã tập trung sản xuất nguyên liệu, sử dụng có hiệu quả diện tích đã được giao tại Ninh Bình, Gia Lai mà còn chủ động liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm cho bà con nông dân tại 13 tỉnh, tạo công ăn việc làm cho trên 20.000 lao động. Sản phẩm của Công ty đã có mặt tại hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có các thị trường khó tính, đòi hỏi tiêu chuẩn cao như Nhật Bản, Mỹ, Đức, châu Âu. Doanh thu bán hàng năm 2018 là 1.900 tỷ đồng, trong đó doanh thu xuất khẩu là 70 triệu USD.
 
Bên cạnh đó, Công ty cũng áp dụng khoa học và công nghệ để sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, tạo ra những sản phẩm an toàn, năng suất, chất lượng cao. Tại tỉnh Ninh Bình, Công ty có diện tích 500 ha tưới tiêu tự động theo công nghệ cảm biến độ ẩm của Israel, tại Gia Lai, Công ty cũng đầu tư hệ thống tưới tiêu chủ động trên diện tích 2.000 ha. Ngoài ra, Công ty cũng liên kết trồng và tiêu thụ nông sản tại nhiều tỉnh, thành khác trên cả nước, giúp giải quyết đầu ra cho nông sản, tạo công ăn việc làm và mang lại thu nhập ổn định cho hàng chục nghìn lao động tham gia chuỗi liên kết.
Phát biểu tại buổi làm việc, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao việc Công ty Đồng Giao đã áp dụng tiến bộ mới nhất của khoa học và công nghệ vào trồng trọt và chế biến thực phẩm. Công ty đã liên kết rất rộng rãi với các tỉnh thành trong cả nước từ Tây Nguyên đến Đồng bằng Bắc Bộ để phát triển nông nghiệp, tích tụ đất đai góp phần nâng cao sản xuất. Cùng với đó là đa dạng các thị trường, mở rộng đến các thị trường khó tính.
 
 
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và đoàn công tác làm việc với lãnh đạo Công ty cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao (Ảnh: Quang Hiếu)
 
Thủ tướng đề nghị ngành nông nghiệp Việt Nam, Công ty Đồng Giao phải áp dụng mạnh mẽ, một là, công nghệ cảm biến, hai là robot tự động hóa, máy bay không người lái, thứ ba là dữ liệu lớn (big data), điện toán đám mây, thứ tư là công nghệ in 3D, thứ năm là ITC, internet vạn vật.
 
Cho rằng kết quả của ngành nông nghiệp thời gian qua mới chỉ là khởi đầu, Thủ tướng đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các cơ quan Trung ương và tất cả các tỉnh, thành trên cả nước cần tập trung lãnh đạo chuyển đổi mạnh mẽ nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng dựa vào khoa học và công nghệ, đa dạng sản phẩm, đi sâu vào chế biến, không chỉ đảm bảo tiêu dùng cho gần 100 triệu dân Việt Nam được sử dụng thực phẩm tốt nhất mà còn có một thị trường xuất khẩu lớn, đa dạng.
 
Nhân dịp này, Thủ tướng mong muốn các đơn vị trong cả nước bắt tay ngay vào sản xuất, kinh doanh, góp phần vào thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 ngay từ đầu năm./.
 
Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển truyền thông KH&CN

IPP2 - Chương trình ODA tiên phong trong hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo và hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam

Lễ kết thúc Chương trình Đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam - Phần Lan giai đoạn 2 (IPP2) khép lại một chặng đường Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Bộ Ngoại giao Phần Lan đồng hành trong tình hữu nghị và hợp tác gần một thập kỷ cho con đường phát triển đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Đồng chí Chu Ngọc Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã bày tỏ cảm xúc rất đặc biệt khi phát biểu tại buổi Lễ kết thúc Chương trình IPP2 sáng ngày 15/01/2019 tại Hà Nội.
 
 
Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh phát biểu tại buổi lễ
 
Mang đến cho Việt Nam một tư duy mới về đổi mới sáng tạo
Với sự hỗ trợ của Chính phủ Phần Lan, IPP là chương trình ODA về đổi mới sáng tạo lần đầu tiên được triển khai ở Việt Nam từ năm 2009 và đến nay đã có ảnh hưởng tích cực tới sự phát triển của hệ thống đổi mới sáng tạo của Việt Nam. Gần 10 năm trước, khi Chương trình được khởi xướng, Đổi mới sáng tạo - Innovation còn là một phạm trù mới và chưa được biết đến rộng rãi ở Việt Nam. Với các nỗ lực của IPP trong giai đoạn 1, Chương trình đã mang đến cho Việt Nam một tư duy mới về đổi mới sáng tạo từ kinh nghiệm Phần Lan như một công cụ mới để phục vụ phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Cho đến hôm nay, đổi mới sáng tạo đã trở thành một trong những động lực mới quan trọng cho tăng trưởng kinh tế trong kỷ nguyên mới, một trong sáu phương châm hành động của Chính phủ Việt Nam trong năm 2019: “Kỷ cương, Liêm chính, Hành động, Sáng tạo, Bứt phá và Hiệu quả”. Đổi mới sáng tạo cũng đã trở thành một lĩnh vực mới thuộc đối tượng quản lý nhà nước, được Chính phủ giao cho Bộ KH&CN chính thức đảm nhiệm. Hướng tới một nền kinh tế phát triển dựa trên vai trò dẫn dắt của đổi mới sáng tạo là mục tiêu chiến lược của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Đổi mới sáng tạo là phạm trù xuyên ngành và cần đặt trong một hệ sinh thái có mối liên kết và hợp tác chặt chẽ giữa các thành tố. Trong bối cảnh mới, Chương trình IPP giai đoạn 2 đã lại một lần nữa đi tiên phong trong việc thúc đẩy sự hình thành và phát triển một xu hướng mới và tiến bộ ở Việt Nam. Đó là Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, nơi gieo mầm, nuôi dưỡng tinh thần doanh nhân và khởi nghiệp sáng tạo để phát triển thành đội ngũ doanh nghiệp mạnh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội. Các kết quả đạt được và tác động mang tính bền vững mà Chương trình IPP2 mang lại cho hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam là rất đáng ghi nhận và trân trọng.
Từ việc hỗ trợ thiết kế các chính sách lớn của Chính phủ về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, nâng cao năng lực cho cán bộ hoạch định chính sách, đào tạo đội ngũ tư vấn khởi nghiệp và giảng viên nguồn của các trường đại học, cho tới việc thử nghiệm các mô hình mới trong tài trợ, hỗ trợ khởi nghiệp, thúc đẩy hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo trong các trường đại học và kết nối doanh nghiệp Phần Lan với thị trường năng động của Việt Nam: Trong từng hoạt động, IPP2 luôn đổi mới sáng tạo và linh hoạt điều chỉnh để có cách làm mới mang lại hiệu quả thiết thực, đáp ứng trúng nhu cầu của thực tiễn Việt Nam. Và điều đó rất đáng được biểu dương, nhân rộng.
Thành công của các dự án doanh nghiệp khởi nghiệp và hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp được IPP2 hỗ trợ, trong đó nhiều dự án đã tiếp tục gọi vốn thành công và vươn ra thị trường khu vực, quốc tế, đã minh chứng sự phù hợp của các mô hình mới, tiên phong về hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của IPP2 đối với Việt Nam, đồng thời cho thấy tiềm năng to lớn của các doanh nghiệp khởi nghiệp dựa trên đổi mới sáng tạo ở Việt Nam. Nếu có các can thiệp chính sách kịp thời và phù hợp, thì tiềm năng đó có thể trở thành hiện thực, các nhóm khởi nghiệp non trẻ có thể trở thành doanh nghiệp trưởng thành có tiềm lực mạnh trong tương lai, mang lại việc làm và giá trị gia tăng cho xã hội. 
 
Cách tiếp cận đổi mới và linh hoạt
Bà Trần Thị Thu Hương - Vụ trưởng, Trợ lý Bộ trưởng Bộ KH&CN, Giám đốc Chương trình IPP2 xúc động chia sẻ: Nhìn ngược lại hơn 4 năm trước, khi giai đoạn 2 của Chương trình IPP được bắt đầu, mảnh đất nuôi dưỡng các hạt mầm khởi nghiệp của Việt Nam mới bắt đầu hình thành, từ khung pháp lý, thiết chế tài chính hỗ trợ khởi nghiệp, hạ tầng dịch vụ, cố vấn - tư vấn khởi nghiệp cho tới sự vào cuộc của các trường đại học. Trong khi nhìn sang các nước láng giềng trong khu vực như Singapore, Malaysia, hay xứ Bắc Âu như Phần Lan, họ đã đi trước chúng ta gần thập kỷ trong hỗ trợ cho hoạt động khởi nghiệp. Còn đối với chúng tôi khi đó, khái niệm khởi nghiệp, hay hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp, còn hết sức mới mẻ và cần rất nhiều nỗ lực tìm hiểu để có cách tiếp cận đúng.
Trong bối cảnh đó, IPP2 bắt đầu đi tiên phong trong các hỗ trợ mang tính thử nghiệm của mình. Lẽ ra, chúng tôi có thể chọn một con đường dễ dàng mà đi đó là thuần túy hỗ trợ cho các dự án khởi nghiệp và lặp đi lặp lại các vòng kêu gọi tài trợ, vốn đã được thiết kế trình tự, thủ tục, tiêu chí hết sức công phu trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Quỹ Tekes Phần Lan. Nhưng chúng tôi đã chọn con đường khó khăn hơn, đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn, để luôn thử nghiệm các mô hình mới và các công cụ can thiệp chính sách mới mà chúng tôi cho rằng sẽ hữu ích đối với hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam – Bà Trần Thị Thu Hương nhớ lại.
 
 
Bà Trần Thị Thu Hương - Vụ trưởng, Trợ lý Bộ trưởng Bộ KH&CN, Giám đốc Chương trình IPP2 phát biểu tại buổi lễ
 
Năm 2015, theo kế hoạch, Chương trình bắt đầu đợt kêu gọi tài trợ đầu tiên dành cho các doanh nghiệp khởi nghiệp và các nhóm liên danh phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp. Nhưng không chỉ tập trung cho việc đó, nhóm triển khai Chương trình đã thảo luận về sự cần thiết phải hỗ trợ phía Việt Nam thiết kế các chính sách nền tảng để thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo. Căn cứ để Chương trình lựa chọn các chính sách để hỗ trợ là Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và đề án của Bộ KH&CN trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong năm 2015.
Bằng việc đưa chuyên gia quốc tế từ Hoa Kỳ và Phần Lan vào Việt Nam trực tiếp làm việc và tư vấn cho các nhóm soạn thảo, IPP2 đã hỗ trợ các đơn vị thuộc Bộ KH&CN xây dựng và trình ban hành các chính sách lớn như Quyết định số 844 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025 (Đề án 844), Luật Chuyển giao công nghệ, và một số văn bản quan trọng khác.
Với cách tiếp cận đổi mới và linh hoạt đó, IPP2 đã không chỉ dừng lại ở việc thử nghiệm mô hình hỗ trợ tài chính và hỗ trợ mềm cho các nhóm khởi nghiệp, Chương trình dần mở rộng ra các hoạt động khác, từ hỗ trợ thiết kế chính sách, đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ hoạch định chính sách, hỗ trợ cho các đơn vị cung cấp dịch vụ cho khởi nghiệp và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, đào tạo huấn luyện viên khởi nghiệp, cho tới các sáng kiến hợp tác với các trường đại học Việt Nam để đào tạo giảng viên nguồn và đưa chương trình đào tạo về khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo vào giảng dạy trong các trường đại học, và sau này, triển khai Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp Phần Lan tiếp cận thị trường Việt Nam, đào tạo chuyên gia tư vấn doanh nghiệp quốc tế là người Việt Nam, thúc đẩy kết nối hợp tác thành phố với thành phố, từ đó mở ra các cơ hội hợp tác mới trong tương lai giữa hai nước Việt Nam và Phần Lan sau khi Chương trình IPP2 kết thúc sứ mệnh của mình ở Việt Nam.
Các hoạt động thử nghiệm theo tư duy sáng tạo đó đã góp phần tác động tích cực và toàn diện tới hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam. Bà Trần Thị Thu Hương chia sẻ: “Có những tác động và hiệu ứng lan tỏa mà chính những người thực hiện Chương trình cũng không hình dung được ngay từ ban đầu. Thực sự, việc triển khai Chương trình IPP2 là một trải nghiệm hoàn toàn mới, ngay cả đối với các chuyên gia Phần Lan. Từng bước, từng bước một, chúng tôi vừa làm, vừa quan sát, đánh giá và điều chỉnh, sao cho lựa chọn được các sáng kiến và hành động mang lại hiệu quả tối ưu và thực sự cần thiết cho hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam”.
“Tôi rất vui mừng chứng kiến các thành quả quan trọng của Chương trình IPP. Đối với Bộ KH&CN Việt Nam, trong những năm qua, IPP được xem là cầu nối quan trọng trong quan hệ hợp tác giữa hai nước Việt Nam và Phần Lan trên lĩnh vực đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, KH&CN. Vì vậy, thành công của Chương trình là minh chứng sinh động cho mối quan hệ hợp tác tốt đẹp và hiệu quả giữa hai nước chúng ta”- Bộ trưởng Chu Ngọc Anh cho biết.
Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh nhấn mạnh: Chính phủ Việt Nam đang tiếp tục khẳng định cam kết mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo và xem đây như một giải pháp quan trọng thúc đẩy số lượng và chất lượng doanh nghiệp Việt Nam. Với sự hỗ trợ của Chương trình IPP2, nhiều chính sách, chương trình mới về hỗ trợ khởi nghiệp và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo đã lần lượt được Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ thông qua. Trong đó có các văn bản mang tính bản lề quan trọng như: Luật Chuyển giao Công nghệ 2017, chế định về khởi nghiệp và đầu tư mạo hiểm trong Luật Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, Nghị quyết số 35 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020, Quyết định số 844 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025.
Trên cơ sở đó, nhiều chương trình, dự án hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cấp trung ương và địa phương đã được khởi động để thúc đẩy hoạt động ươm tạo, đào tạo và tư vấn khởi nghiệp, thương mại hóa công nghệ, tài trợ và hỗ trợ vốn vay cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Các bài học kinh nghiệm và công cụ thí điểm hỗ trợ khởi nghiệp và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Chương trình IPP2 là nguồn tham khảo hữu ích để các cơ quan, tổ chức liên quan ở Việt Nam nghiên cứu, vận dụng trong hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo của đơn vị mình.
Việc bước đầu có được một hệ sinh thái thuận lợi về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp ở Việt Nam là kết quả của quá trình đổi mới tư duy chiến lược của các nhà hoạch định chính sách về đổi mới sáng tạo và nỗ lực chung của cộng đồng khởi nghiệp, trong đó có vai trò đóng góp tiên phong của Chương trình IPP2 với sự hỗ trợ hiệu quả của Chính phủ Phần Lan.
Cũng tại buổi lễ, Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh thay mặt Bộ KH&CN gửi lời cảm ơn chân thành vì sự ủng hộ và hỗ trợ quý báu của Chính phủ Phần Lan, Bộ Ngoại giao Phần Lan, Đại sứ quán Phần Lan tại Hà Nội đối với hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam thông qua Chương trình Đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam - Phần Lan cả hai giai đoạn.
“Chúng tôi mong tiếp tục nhận được sự ủng hộ và hợp tác của Bộ Ngoại giao Phần Lan trong năm 2019 và những năm tiếp theo, đặc biệt trong việc thúc đẩy triển khai có hiệu quả Biên bản ghi nhớ hợp tác song phương mới đã được Bộ KH&CN Việt Nam và Bộ Kinh tế - Việc làm Phần Lan ký kết cuối năm 2018 vừa qua trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong xây dựng năng lực và đào tạo nguồn nhân lực, đẩy mạnh các dự án hợp tác nghiên cứu chung và tăng cường năng lực của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam. Chúc quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Phần Lan ngày càng phát triển tốt đẹp. Chúc quan hệ hợp tác đối tác giữa Bộ KH&CN với Bộ Ngoại giao Phần Lan và các cơ quan Chính phủ Phần Lan phát triển lên một tầm cao mới, mang lại các lợi ích thiết thực hơn nữa cho cộng đồng khoa học, doanh nghiệp và nhân dân hai nước chúng ta” – Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh nói.
 
Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh và Đại sứ Phần Lan Kahiluoto chụp ảnh lưu niệm
với các đại biểu và cán bộ, chuyên gia dự án IPP2
 
5 yếu tố đặc thù giúp IPP2 vượt qua các khó khăn, trở ngại để có thể đến đích thành công
Thứ nhất, có cam kết chính trị và sự ủng hộ, tin tưởng của các cấp lãnh đạo cao nhất của hai Bộ chủ trì, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Bộ Ngoại giao Phần Lan (Đại sứ quán Phần Lan tại Hà Nội); trao quyền tự chủ và không gian sáng tạo cho Ban Quản lý Dự án và kiểm soát thực hiện bằng kết quả, hiệu quả đầu ra của Chương trình thông qua đánh giá độc lập.
Sự ủng hộ của Bộ trưởng và Thứ trưởng trực tiếp phụ trách, của Đại sứ quán Phần Lan tại Hà Nội và Bộ Ngoại giao Phần Lan tại Helsinki, chỉ đạo sát sao của Ban chỉ đạo Chương trình cùng với sự trợ giúp và hợp tác dựa trên tinh thần xây dựng của các đơn vị thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ (Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Kế hoạch - Tài chính, Văn phòng Bộ, Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN, các đơn vị truyền thông của Bộ,…), Vụ Kinh tế đối ngoại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại của Bộ Tài chính, là thuận lợi rất lớn đối với Chương trình IPP2.
Thứ hai, có đội ngũ cán bộ dự án mạnh, kết hợp và bổ sung lẫn nhau giữa chuyên gia tư vấn kỹ thuật của Phần Lan và cán bộ Việt Nam thấu hiểu nhu cầu thực tiễn của phía Việt Nam, cùng hợp tác đồng sáng tạo trong môi trường khuyến khích sáng tạo.
Môi trường làm việc thân thiện, đoàn kết, đề cao tinh thần làm việc nhóm, khuyến khích đồng sáng tạo, suy nghĩ khác biệt và tôn trọng sự khác biệt, sự kết hợp hài hòa giữa đội ngũ chuyên gia tư vấn kỹ thuật trình độ cao của Phần Lan với các cán bộ dự án người Việt có năng lực, chuyên nghiệp cũng là nhân tố quan trọng giúp Dự án triển khai thuận lợi.  
Thứ ba, áp dụng nguyên tắc không ngừng cải tiến (continuous improvement) trong mọi hoạt động của Chương trình; cho phép linh hoạt điều chỉnh và chuyển hướng kịp thời để tối ưu hóa hiệu quả, tác động.
Thứ tư, gây dựng niềm tin (public trust) trong cộng đồng khởi nghiệp và các đối tượng thụ hưởng thông qua các giá trị cốt lõi mà Chương trình theo đuổi: trao cơ hội công bằng cho mọi đối tượng; minh bạch thông tin; độc lập, khách quan trong quá trình lựa chọn các đề xuất dự án; đồng thời, tôn trọng pháp luật của cả hai quốc gia Việt Nam và Phần Lan.
Thứ năm, lấy lợi ích quốc gia làm trọng. Lợi ích quốc gia chi phối mọi sáng kiến mới trong thực thi Chương trình và khiến các đàm phán, thảo luận song phương giữa hai bên dễ đạt được sự thấu hiểu, chia sẻ và đồng thuận.
(Bà Trần Thị Thu Hương - Vụ trưởng, Trợ lý Bộ trưởng Bộ KH&CN, Giám đốc Chương trình IPP2)
 
Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển truyền thông KH&CN

Công tác Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 2019: “Bứt phá, sáng tạo và hiệu quả”

Chiều ngày 11/01/2019 tại Hà Nội, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (TĐC) đã tổ chức Hội nghị tổng kết năm 2018 và phương hướng nhiệm vụ năm 2019. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Chu Ngọc Anh đã tham dự và chỉ đạo Hội nghị.
Tham dự Hội nghị còn có Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng; đại diện lãnh đạo các cơ quan thuộc Bộ KH&CN, các bộ ngành trung ương, địa phương và các tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan.
Về phía Tổng cục có Tổng cục trưởng Tổng cục TĐC Trần Văn Vinh; các Phó Tổng cục trưởng; đại diện Đảng ủy Tổng cục, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Cựu chiến binh và đại diện lãnh đạo, cán bộ chủ chốt của các đơn vị trực thuộc.
 
Bộ trưởng Chu Ngọc Anh phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị

Tăng cường sự phối hợp trong triển khai Nghị quyết về chỉ số đổi mới sáng tạo

Tại Hội nghị tổng kết triển khai thực hiện Nghị quyết 19-2017/NQ-CP và Nghị quyết 19-2018/NQ-CP của Chính phủ về chỉ số Đổi mới sáng tạo do Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tổ chức ngày 28/12/2018, các đại biểu cho rằng chỉ số đổi mới sáng tạo (ĐMST) là bộ chỉ số được chuẩn hóa, mang tính quốc tế, là công cụ để đánh giá năng lực ĐMST của quốc gia nhằm phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, để có đầy đủ dữ liệu phục vụ việc đánh giá cũng như nâng cao năng lực ĐMST, cần tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện các giải pháp cải thiện chỉ số ĐMST cũng như cung cấp dữ liệu liên quan.
 
Toàn cảnh hội nghị
 
Triển khai nhiều hoạt động
Tại hội nghị, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đã báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết 19-2017/NQ-CP và Nghị quyết 19-2018/NQ-CP của Chính phủ về chỉ số ĐMST năm 2018. Theo đó, ngày 06/02/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020. Nghị quyết đã đặt ra các mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và ĐMST của Việt Nam. Chính phủ đã phân công các bộ, cơ quan cụ thể chủ trì cải thiện các chỉ số ĐMST (trong đó, Bộ KH&CN chủ trì 24 chỉ số). Đặc biệt, Bộ KH&CN được Chính phủ phân công chủ trì, theo dõi việc cải thiện chỉ số ĐMST của các bộ, cơ quan, địa phương (gồm hướng dẫn các bộ, ngành, UBND cấp tỉnh tìm hiểu phương pháp, cách tính toán và ý nghĩa của các chỉ số ĐMST; tổ chức thực hiện, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện tại các bộ, ngành, địa phương; hàng quý và hàng năm tổng hợp kết quả thực hiện cải thiện các chỉ số ĐMST). Các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm xây dựng Chương trình, Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết của Chính phủ, trong đó xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị và tiến độ thực hiện đối với từng nhiệm vụ gắn với từng chỉ số ĐMST được phân công.
Năm 2018 Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP về thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo. Trong đó, Bộ KH&CN vẫn được giao nhiệm vụ làm đầu mối theo dõi việc cải thiện chỉ số về ĐMST, đồng thời được bổ sung nhiệm vụ chủ trì rà soát, kiến nghị điều phân công cải thiện một số chỉ số ĐMST, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ, ngành liên quan nghiên cứu đưa một số chỉ số về ĐMST vào thống kê quốc gia, thực hiện thống kê theo định kỳ.
Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ phân công, năm 2018 Bộ KH&CN đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai nhiều hoạt động như: phối hợp với chuyên gia của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) tổ chức hội thảo hướng dẫn, giới thiệu về các điều chỉnh của chỉ số ĐMST toàn cầu năm 2018 và kết quả của Việt Nam; biên soạn, cập nhật tài liệu Sổ tay Hướng dẫn về chỉ số ĐMST toàn cầu - GII năm 2018 để gửi toàn bộ các UBND và Sở KH&CN tỉnh/thành phố, các bộ, cơ quan và đơn vị liên quan; triển khai hướng dẫn tại nhiều địa phương cũng như hỗ trợ một số Bộ, cơ quan thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, Bộ KH&CN đã liên tục đôn đốc việc thực hiện các giải pháp cải thiện chỉ số ĐMST và báo cáo kết quả hàng quý của các bộ, cơ quan, địa phương. Bộ KH&CN đã tổ chức rà soát phân công chủ trì cải thiện một số chỉ số ĐMST; đẩy mạnh truyền thông về kết quả xếp hạng chỉ số ĐMST của Việt Nam năm 2018 với nhiều hình thức khác nhau. Bộ cũng đã xây dựng các báo cáo chuyên hàng quý đề tổng hợp kết quả thực hiện và Báo cáo về chỉ số ĐMST của Việt Nam năm 2018 trình Thủ tướng Chính phủ.
Cần các giải pháp chính sách để cải thiện các chỉ số
Năm 2017, chỉ số ĐMST của Việt Nam đã tăng hạng khá ấn tượng, từ vị trí 59/128 lên vị trí 47/127 nước và nền kinh tế (tăng 12 bậc). Năm 2018, tiếp tục xu hướng cải thiện, chỉ số ĐMST của Việt Nam đã tiếp tục tăng 2 bậc so với năm 2017, xếp hạng thứ 45, là thứ hạng cao nhất từ trước tới nay. So với mức GDP, Việt Nam được đánh giá là thể hiện tốt hơn mức độ phát triển của quốc gia mình. Trong nhóm các nước thu nhập trung bình thấp (gồm 30 nước), năm 2018, Việt Nam đứng thứ hai và trong khu vực Đông Nam Á, Đông Á và Châu Đại Dương, Việt Nam đứng thứ 10. Đây là minh chứng cho kết quả của những chỉ đạo quyết liệt từ Chính phủ và sự nỗ lực của các Bộ, ngành, địa phương.
 
Thứ trưởng Bùi Thế Duy: Tương lai phát triển kinh tế xã hội toàn cầu sẽ dựa rất nhiều vào ĐMST, đặc biệt ở Việt Nam
 
Theo Thứ trưởng Bộ KH&CN Bùi Thế Duy, bộ chỉ số ĐMST là công cụ để mỗi quốc gia đánh giá, nhìn nhận năng lực ĐMST cũng như đánh giá tổng thể những đóng góp, yếu tố liên quan đến ĐMST trong phát triển kinh tế xã hội. Do đó, cần sử dụng bộ công cụ này để khắc phục những hạn chế cũng như phát huy thế mạnh về ĐMST của một quốc gia. Việc đưa chỉ số ĐMST thành tiêu chí để triển khai Nghị quyết là cách làm mới của Chính phủ.
Sau hai năm thực hiện, chúng ta đã có được những kết quả cũng như kinh nghiệm nhất định, sự hiểu biết về các chỉ số ĐMST đến nay đã tương đối rõ. Từ việc thu thập, cập nhật số liệu đến nay, chúng ta đã đưa ra được các phương pháp thống kê số liệu cũng như giải pháp để cải thiện các chỉ số, nhìn nhận được những thế mạnh cũng như hạn chế trong từng lĩnh vực. Thứ trưởng bày tỏ mong muốn Hội nghị sẽ thảo luận để đưa ra các giải pháp nhằm tiếp tục giải quyết các vấn đề còn hạn chế (cơ chế chính sách, tuyên truyền,…) góp phần cải thiện các chỉ số ĐMST trong năm 2019; phối hợp cung cấp dữ liệu đầy đủ để sử dụng hiệu quả hơn bộ chỉ số ĐMST nhằm thúc đẩy sự phát triển của các ngành, địa phương. “Tương lai phát triển kinh tế - xã hội toàn cầu sẽ dựa rất nhiều vào ĐMST, đặc biệt ở Việt Nam, thay cho việc phát triển dựa trên các nguồn tài nguyên đã dần cạn kiệt, nhân lực giá rẻ không còn lợi thế, chỉ còn tri thức và ĐMST là động lực để chúng ta tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”, Thứ trưởng nhấn mạnh.
Tại hội nghị, các đại biểu đã trao đổi, thảo luận và đưa ra nhiều giải pháp nhằm cải thiện chỉ số ĐMST. Ông Phạm Xuân Hòe - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho rằng, chỉ số ĐMST là bộ chỉ số được chuẩn hóa rất cao. Hạn chế lớn nhất là sự phối hợp của các Bộ, ngành trong triển khai thực hiện. Với bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0 và dữ liệu lớn, nếu không kết nối sẽ rất khó khăn trong việc tích hợp thông tin, dữ liệu. Do đó, các cơ quan liên quan cần tham mưu, đề xuất để Chính phủ có những quy định rõ hơn về sự phối hợp giữa các bộ, cơ quan trong triển khai cải thiện chỉ số ĐMST cũng như trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lí nhà nước khác.
Nhiều đại biểu tham dự hội nghị cũng cho rằng, cần thiết lập Tổ công tác về chỉ số ĐMST và với thành viên là đầu mối của mỗi bộ, ngành, địa phương; các bộ, ngành, địa phương cần chủ động gửi báo cáo, dữ liệu đúng thời hạn; xác định yếu tố cốt lõi để có thể nâng cao năng lực ĐMST một cách thực chất, phục vụ phát triển bền vững; chỉ số ĐMST cần phải gắn với chỉ số phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và có hướng dẫn cụ thể, hỗ trợ địa phương thực hiện để nâng cao hiệu quả hoạt động về các chỉ số ĐMST;…
Khung chỉ số GII
Trong đánh giá của Tổ chức WIPO, ĐMST được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là ĐMST dựa trên R&D mà còn là những ĐMST không dựa trên R&D và bao trùm cả ĐMST về tổ chức, thị trường,… Cách tiếp cận này của WIPO thể hiện quan điểm năng lực ĐMST của mỗi quốc gia có liên hệ mật thiết với trình độ phát triển và hiệu quả hoạt động của hệ thống ĐMST của quốc gia đó và sự kết nối với các quốc gia/nền kinh tế khác. Với cách tiếp cận này, GII được tích hợp từ số đo (được quy chuẩn) của 7 trụ cột lớn, mỗi trụ cột lớn được tích hợp từ số đo của 3 trụ cột nhỏ, gọi là nhóm chỉ số. Mỗi nhóm chỉ số gồm từ 2-5 chỉ số thành phần, tổng thể có khoảng 70 – 80 chỉ số thành phần, thay đổi tùy từng năm. Năm 2017, có 81 chỉ số thành phần được sử dụng, năm 2018 có 80 chỉ số được sử dụng để đánh giá.
Có 3 chỉ số tổng hợp (index) chính được tính toán, đo lường gồm: (1) chỉ số tổng hợp về đầu vào ĐMST, (2) chỉ số tổng hợp về đầu ra ĐMST, và (3) chỉ số tổng hợp ĐMST (là trung bình cộng đơn giản Chỉ số tổng hợp về Đầu vào và Chỉ số tổng hợp về Đầu ra).
Kết quả xếp hạng năm 2018 của nhóm chỉ số đầu vào:
                 1.     Thế chế: 56.2 điểm, xếp hạng 78
                 2.     Nguồn nhân lực và nghiên cứu: 30 điểm, xếp hạng 66
                 3.     Cơ sở hạ tầng: 40.4 điểm, xếp hạng 78
                 4.     Trình độ phát triển của thị trường: 54.3 điểm, xếp hạng 33
                 5.     Trình độ phát triển của kinh doanh: 30 điểm, xếp hạng 66
Kết quả xếp hạng năm 2018 của nhóm chỉ số đầu ra
                 6.     Sản phẩm kiến thức và công nghệ: 32.4 điểm, xếp hạng 35
                 7.     Sản phẩm sáng tạo: 35 điểm, xếp hạng 46.
 
Nguồn: Trung tâm nghiên cứu và Phát triển truyền thông KH&CN
 

Bạn đã thêm sản phẩm vào giỏ hàng!